Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

9/6/14

Nhớ hoài dâu chín tím vân

 
 
Nhà em ở cạnh nhà anh
Cách nhau một dải dâu xanh mượt mà
Ngày xuân dâu nở nhiều hoa
Hương thơm man mác hai nhà đón xuân
Bao giờ dâu chín tím vân
Hái dâu gửi tặng người gần nhà anh

Bài thơ “Dâu chín tím vân” của nhà thơ Phạm Văn Tất đọc lên có cảm giác vừa lạ vừa quen. Quen vì chuyện giống chuyện. Còn lạ bởi tình yêu trong thơ ông có màu sắc và mùi vị rất riêng xưa nay chưa từng thấy. Đây là một trong số những thi phẩm mà tôi ưa thích do tác giả Phạm Văn Tất sáng tác. Bài thơ có cái vẻ nhỏ xinh như một món quà lưu niệm mà người ta trao nhau vào một dịp hợp lý nào đó.
 
Yêu người hàng xóm vốn không phải là đề tài mới trong thi ca Việt Nam. Hàng chục năm nay, bài thơ “Người hàng xóm” của Nguyễn Bính vẫn luôn nhận được sự yêu mến của độc giả. Chưa kể trong âm nhạc chúng ta không thể không nhắc đến hai nhạc phẩm nổi tiếng là “Cô láng giềng” của Hoàng Qúy và “Cô hàng xóm” của Lê Minh Bằng. Dẫn chứng ra như vậy để thấy rằng, khi nào mà còn cái cớ “nhà nàng ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái dậu mồng tơi/ cái hàng tường vi hay chỉ là một ngõ xóm” thôi thì cũng đã đủ chất liệu dệt nên một tình yêu lãng mạn.

Như tôi có đề cập đến ở trên, “Dâu chín tím vân” thoáng đọc có dáng dấp của tác phẩm “Người hàng xóm” của Nguyễn Bính về bối cảnh. Bài thơ nhắc đến một chuyện tình thơ mộng thôn quê. Chàng trai và cô gái dường như lớn lên cùng nhau và:

Nhà em ở cạnh nhà anh
Cách nhau một dải dâu xanh mượt mà

“Nhà em” cách “nhà anh” “một dải dâu xanh mượt mà”. Không giống các ranh giới “kinh điển” là dậu mồng tơi, bờ tường vi hay con ngõ nhỏ, “dải dâu” khiến người đọc khó ước lượng được khoảng cách giữa nhà chàng – nàng, còn màu “xanh mượt mà” lại gợi nhớ đến tuổi thơ và những kỷ niệm dịu dàng thuở hoa niên đã có giữa hai người. Thế rồi:

Ngày xuân dâu nở nhiều hoa
Hương thơm man mác hai nhà đón xuân


Đây là hai câu thơ rất dễ chịu. Nó đóng vai trò diễn tả, kết nối không gian từ quá khứ đến hiện tại và rồi sẽ là một tương lai nào đó có khả năng xảy ra. Người đọc được chìm mình trong một khung cảnh yêu kiều: trời đất đã vào xuân, dải dâu xanh ngày nào nay đã nở hoa. Mùa xuân hoa nở là chuyện đương nhiên, có điều “hương thơm man mác” lan tỏa giữa hai ngôi nhà chúng ta là hương hoa dâu thật hay chỉ cái ý “tình trong như đã mặt ngoài còn e” của lứa đôi. Tuy không còn che giấu được nữa nhưng cả hai cũng chưa xác định sự chắc chắn trong tình cảm của mình và người kia cho nên thực ra tình dù có song cũng chỉ là “phảng phất” như hương hoa dâu đó thôi! Vậy nên chàng trai phải mượn cảnh xuân để nói tình xuân:

Bao giờ dâu chín tím vân
Hái dâu gửi tặng người gần nhà anh


Chúng ta nhận thấy có sự tăng trưởng về mặt thời gian qua hiện tượng: dâu xanh mượt mà à mùa xuân dâu nở nhiều hoa à dâu chín tím vân khiến một sự việc từ “mơ hồ” trở thành “nắm bắt được”: “hương dâu man mác” nay đã có thể “hái dâu gửi tặng”. Đây là quãng thời gian thực, tương đương một mùa vụ trồng dâu nuôi tằm.

Xét về mặt hiện tượng, rõ ràng người con trai chỉ hứa tặng cô gái những chùm dâu ngon khi chín tới nhưng thực ra ẩn sâu trong câu nói của chàng là một lời thổ lộ và hứa hẹn yêu thương chu đáo. Người đọc cho rằng chàng trai trong bài thơ rất chín chắn trong tình yêu.

Chàng trai hoàn toàn có thể nói với cô gái rằng “Em ơi, khi nào dâu nhà anh chín thì anh hái tặng em nhé!”. Nếu chàng nói vậy chúng ta có thể hiểu rằng đúng là lúc nào dâu chín anh mời cô ăn thật, tức chẳng có tí tình cảm gì hết hoặc chàng có ý nhưng chàng vẫn còn “trẻ con” quá, thật thà quá. Cô gái chắc chắn sẽ thất vọng. Cô gái chắc chắn sẽ dỗi hờn mà trả lời rằng: “Nhà em cũng có dâu chín anh ạ”, hoặc sẽ là “Em không thích ăn dâu” để mà từ chối, để mà cong cớn với người con trai “ngốc” đang đứng trước mặt nàng.

Thế nhưng chàng trai lại khéo quá cơ!
Chàng không nói “dâu chín”, chàng nói “dâu chín tím vân”
Chàng không nói “hái dâu mời em”, chàng nói “hái dâu gửi tặng người gần nhà anh”
 
Qủa dâu tằm chín nào phải loại trái cây sang quý gì đâu mà phải nói năng trịnh trọng đến thế. Người đọc có lạ gì quả dâu tằm bé bé xinh xinh ấy. Khi chín, thường dâu chuyển từ màu xanh non sang màu hồng, màu đỏ và cuối cùng là chín đen, khi đó quả dâu khá ngọt. Thế nên tôi có phần ngạc nhiên trước màu “dâu chín tím vân” của tác giả. Tìm trong thực tế, tra trong các bảng màu, tôi chẳng thấy có định nghĩa về màu “tím vân” như tác giả nói. “Tím vân” chắc chắn là một dạng của màu tím - vốn tượng trưng cho sự chung thủy trong tình yêu. Ai cũng hiểu tím than, tím đỏ, tím Huế, tím sim… chứ tím vân thì…. Người đọc cho rằng màu tím vân ấy có xu hướng tím đậm đà, hơi ngả ánh của ráng chiều. Nó có phần nhẹ như mây nhưng rõ ràng hình khối. Mà cũng có lẽ, màu ấy của quả ấy thực ra là màu của tình yêu chàng dành cho “người gần nhà anh” đấy thôi.

Tôi đoán chàng trai muốn nói với người con gái mà anh đang thầm thương trộm nhớ rằng: hiện tại tình cảm giữa hai người tuy có nhưng vẫn còn mông lung, chưa rõ một điều gì và chưa thể đi đến một quyết định gì. Vậy hãy chờ thêm một thời gian nữa, để cả hai bên được tìm hiểu nhau rõ ràng hơn và cũng xác tín thật rõ lòng mình. Một khi tình yêu đủ chín, chàng sẽ tặng cho cô gái những gì tốt đẹp nhất, chung thủy nhất.

Chao ôi, tôi cho rằng những mối tình hoa mộng như trong bài thơ “Dâu chín tím vân” này bây giờ thật tìm chẳng thấy bởi quá thanh khiết và dịu dàng. Và cách tỏ tình kiểu “ý toại ngôn ngoại” này thực sự chỉ có thể dành cho người tri kỷ mà thôi.

Một trong những điểm mạnh của nhà thơ Phạm Văn Tất là sử dụng nhuần nhuyễn thể loại thơ lục bát. Thể thơ này đã đem lại cái phong vị thôn dã tươi sáng, thuần hậu đậm đà chất Việt và bàng bạc hoài niệm cố hương cho bài thơ.

Có bao nhiêu con đường để đi đến tình yêu thì cũng có bấy nhiêu cách bày tỏ tấm chân tình. Các cô gái đang yêu thường hay hỏi người yêu rằng: “Tại sao anh yêu em?”. Chắc chắn sẽ có hàng ngàn đáp án kiểu như “Vì em xinh, vì em ngoan, vì em dịu dàng, vì em tóc dài, vì em da trắng….”. Ngoài các câu trả lời chính đáng và làm đẹp lòng người yêu này thì trong nghệ thuật lẫn đời sống thực, người đọc còn thấy có một câu trả lời rất chi đặc biệt: “Vì nhà em ở cạnh nhà anh”

Graham Greene nói rằng: "Chẳng bao giờ xảy ra chuyện ta yêu mà người con gái không hề hay biết – ta tin rằng mình đã tỏ tình một cách rõ ràng bằng một giọng nói, một cái chạm tay". Vì vậy ta cũng có thể kết luận rằng, khi chàng trai hái những chùm dâu chín tím mọng trong vườn mình gửi tặng người con gái thì chắc chắn là một lời tỏ tình êm ái!

Hạ Vũ

28/10/11

Hạnh phúc ở lại



(TĐVN) Ngày tháng 10 đương vào độ nồng nàn thu. Nắng thì dịu dàng, còn gió thật nhẹ nhàng. Trời đất lắng để lòng người bừng lên những trong trẻo nguyên sơ. Tháng 10 có ngày 20, ngày được xã hội dành riêng nhằm bày tỏ sự thương mến, trân trọng đến những người bà, người mẹ, người chị, người em, người vợ, người yêu.

Nhân cái cớ đáng yêu đó, Thi đàn Việt Nam xin được giới thiệu đến độc giả tác giả thơ Lưu Thị Phương Đông và chùm thơ của chị. Tiếng thơ của Phương Đông nữ tính và yêu mến cuộc đời bằng những quan điểm rất phụ nữ Việt Nam.

Nhà thơ Lưu Thị Phương Đông (tên thật là Lưu Thị Đồng) quê quán ở Hồng Phong, Vũ Thư, Thái Bình. Chị là một chuyên gia kinh tế, đang sống và làm việc tại Hà Nội. Phương Đông đã xuất bản 2 tập thơ: Nửa vầng trăng (NXB Hội Nhà văn, 2004) và Giữ lại hồn thu (NXB Hội Nhà văn, 2010)

Xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả chùm thơ của chị: 

Nữ tác giả thơ Lưu Thị Phương Đông được Thi Đàn Việt Nam (www.tho.com.vn) mời tham dự Câu lạc bộ thơ chủ đề “Phụ nữ” do Thi đàn Việt Nam phối hợp cùng Đài truyền hình Việt Nam sản xuất và phát trên sóng VTV1. Chị xuất hiện ở trường quay rạng rỡ trong bộ áo dài đỏ thắm cùng nụ cười tươi tắn xuyên thời gian. Phương Đông đã khiến cho các bạn thơ có mặt tại trường quay xúc động khi chị đọc bài thơ “Điều đơn giản” do chị sáng tác. Với Phương Đông, hạnh phúc bắt nguồn từ:
Điều bình thường như cây cỏ, dòng sông
Bởi đơn giản chúng tôi là phụ nữ!
Thế nên, tôi quyết định đi tìm công thức hạnh phúc từ “Điều đơn giản” của chị!

Đồng dao của mẹ

Là phụ nữ, ngoài các bổn phận mà xã hội phân công thì tạo hóa dành cho họ một thiên chức đặc biệt, đó là làm mẹ!
Vâng, người phụ nữ thể hiện tất cả những tính nữ của mình khi và chỉ khi nào họ làm mẹ. Từ lúc biết con đang hoài thai trong bụng mình, những rung cảm âu yếm, yêu thương, chở che xuất hiện và ngày càng mạnh mẽ hơn.
Đã được tiếp cận tác phẩm của nhiều cây bút nữ nhưng lần này tôi khá ngạc nhiên khi đọc những bài thơ Phương Đông viết cho con mình. Gọi thơ là đúng, nhưng nếu gọi thêm đó là lời ru, là vòng tay siết chặt bao bọc trọn đời những đứa con của mình bằng một tình thương dồi dào, kiên quyết và đặc trưng của người mẹ Việt Nam thì cũng không sai.
Tỷ mẩn, người đọc ngồi đếm các bài thơ viết cho con trai, con gái của chị. Số lượng khá nhiều, có thể in riêng một tập thơ. Ở các chủ đề khác, thơ Phương Đông trầm ngâm, suy tư. Riêng thơ viết cho con thì trong trẻo lạ! Xin tất cả hãy cùng Phương Đông lên chuyến tàu thơ để cảm nhận được hơi ấm tình thương người mẹ đậm đà trong những vần thơ cho con. Tình cảm chị dành cho các con trải dài theo những ngày con lớn dần lên.
Phương Đông là một người mẹ bôn ba. Số phận sắp đặt chị phải một mình nuôi hai con mọn trong khi chờ đợi người chồng đi học ở phương xa. Một mình vất vả lo toan trước cuộc đời sóng gió. Có khi sau một ngày trở về, bước chân mệt nhoài cô đơn. Vậy mà, bao nhiêu ưu tư chợt tan biến đi ngay khi người mẹ nhìn thấy con trẻ đang đứng chờ mình trước cửa với nụ cười rạng ngời thơ ngây.
Mỗi khi đi làm về
Đã thấy con đón cửa
Mặt cười tươi rạng rỡ
Miệng reo: “A, mẹ về!”


(Mẹ, con)

Với bài thơ “Đón con từ nhà trẻ”, người đọc tin rằng những bà mẹ khác sẽ đồng cảm nhiều lắm. Con bé bỏng thơ dại như thế, mẹ muốn ở bên con ấp ủ chăm sóc nhưng mẹ phải đi làm. Gửi con nhà trẻ có cô giáo chăm lo rồi mà khi trên đường đến trường đón con về, lòng mẹ biết bao suy nghĩ buồn vui, thương yêu lẫn lộn:
Giờ này con – giấc ngủ êm?
Hay là đang khóc ướt nhèm bờ mi?


(Đón con từ nhà trẻ)

Cụm từ “ướt nhèm bờ mi” đặt vào tứ thơ lục bát sao lay động quá. Không là từ láy mà rất tượng hình, tượng thanh. Người đọc ngay lập tức có thể hình dung ra hình ảnh một bé con đang đứng nép vào góc sân trường, đôi mắt ngóng ra đường đợi bóng dáng mẹ yêu. Chờ mẹ trong cảnh chiều tà chắc lòng nhiều sợ hãi và nước mắt cứ chảy đầm đìa không giấu diếm.
Nghĩ đến đó thì lòng người mẹ bỗng nhiên “bồn chồn nơi tim”.
Với con trai và con gái, chị dành cho mỗi con một sự cưng chiều khác nhau.
Với con trai, đó là nơi chị gửi gắm niềm hy vọng tương lai. Chị yêu con, gọi con là “giống” đầy tự hào và chiều chuộng.
Giống là của mẹ, của cha
Giống vàng, giống ngọc, tinh hoa ông bà
Giống hay gạ mẹ ăn quà
Giống thường ăn vạ, cả nhà thấy vui
Nhong nhong lưng mẹ giống ngồi
Mẹ cười cung sướng “giống còi, yêu ghê”


(Giống của mẹ)
“Giống” của mẹ lớn lên sẽ đỗ ông Nghè ông Trạng làm rạng danh tổ tiên. Nghĩ đến vậy thôi, nhà thơ đã thấy

Là niềm tin để mẹ quên nhọc nhằn.
Với con trai thì như vậy, còn với con gái, chị dành cho con sự chăm lo rất dịu dàng:
Bé cún con của mẹ
Ốm cứ nằm li bì
Giờ ăn con không dậy
Ho khục khoặc cả ngày


(Khi con hết ốm)
Hình ảnh “cún con” nằm sốt li bì, khiến người đọc cũng cảm nhận được sự thương con, lo lắng đến nghẹn ngào của người làm mẹ.
Và mẹ đâu quản sớm khuya chăm sóc để mong sao con khỏe mạnh

Sớm nay như mọi lần
Sờ trán con hết nóng
Con mỉm cười trong mộng
Mà mẹ vui muôn phần


(Khi con hết ốm)

Là trẻ con, có ai không thích được mẹ xoa lưng xoa bụng, sờ đầu sờ trán. Vì trẻ con luôn cần được yêu thương, quan tâm đấy thôi. Bật mí cho nhà thơ nhé, có thể “cún cưng” của nhà thơ không chỉ “mỉm cười trong mộng” đâu mà cún cưng đang cười thật đấy. Trong sự lơ mơ dễ chịu khi cơn sốt đi qua, bé nhận ra hơi ấm bàn tay mẹ đang đặt trên trán mình, khuôn mặt mẹ đang dịu hiền nhìn mình. Thế nên bé sung sướng và yên tâm chìm vào giấc ngủ đấy thôi. Trẻ con dễ thương và thông minh lắm, nhận biết được mọi thứ quanh mình đấy!
Khi đọc những bài thơ viết cho con của nữ tác giả Phương Đông, người đọc vui cùng nụ cười nhà thơ, buồn lo cùng những buồn vui cho con của nhà thơ. Thế là người đọc cũng trở thành một người mẹ.
Và cũng như Phương Đông, người đọc thấy vui vui khi lẩm nhẩm bài thơ “Con làm cô giáo” của chị. “Cô giáo” có học trò là hai em búp bê cơ đấy
Đã đến giờ tập vẽ
Hãy tô hoa màu hồng
Sao em tô màu dương
Sai rồi, cô phạt đứng
Cô giáo đang nghiêm nghị là vậy, đột nhiên:
Bỗng dưng cô cao hứng
Hát vang bài mèo con
Rửa mặt sao bẩn thế
Xấu quá, mẹ chẳng hôn
Thế rồi, sau khi nhắc nhở các học trò (hay tự nhắc chính mình?!) không được ở bẩn như mèo con kẻo mẹ giận không thơm lên má thì cô lại đã làm cho người đọc bất ngờ quá:
Một mình cô bận rộn
Mệt quá đi nằm thôi
Giấc mơ chợt đến rồi
Cô mìm cười gọi “mẹ”
Nhà thơ Phương Đông hẳn là người tinh tế trong quan sát. Bởi vì các hình ảnh thơ gần gũi song khá sống động. Những cái kết ngộ nghĩnh và bất ngờ như hình ảnh “cô giáo nhỏ” mỉm cười gọi mẹ trong giấc mơ làm người đọc cùng được chia phần hạnh phúc. Người đọc tin rằng, cứ mỗi lúc mệt mỏi vì cuộc sống, nhà thơ Phương Đông chỉ cần nhớ lại hình ảnh “cô giáo tí hon” mìm cười trong giấc mơ hoặc “giống còi” của chị đang nhong nhong trên lưng mẹ thì nhà thơ đủ sức vượt qua mọi khó khăn trở ngại trên cuộc đời này.
Những nét phác họa của Phương Đông để lại ấn tượng khá sâu sắc trong lòng người đọc về sự thơ ngây con trẻ. Phải yêu con lắm, hiểu con lắm, thuộc lòng trạng thái biểu cảm và tính nết mỗi đứa thì chị mới có thể ghi lại được những khoảnh khắc đáng yêu của con xuất thần đến vậy.
Nuôi con một mình khi chồng đi học xa, người vợ trẻ trong chị nén lòng chờ đợi chồng trở về. Còn với con trẻ, nỗi nhớ cha làm sao mà biết kìm chế. Day dứt trong lòng độc giả là hình ảnh người mẹ bồng con đi tìm bố khắp hang cùng ngõ hẻm
Mẹ bế con đi dưới ánh trăng tròn
Con mếu máo chỉ chỗ này, chỗ nọ
Với hy vọng đằng kia có bố
Mẹ nhanh lên kẻo bố đi rồi


(Đi tìm bố)
Nhưng, dưới ánh trăng vằng vặc đó chỉ có một người mẹ lẻ loi chở che cho đứa con còn quá nhỏ của mình:

Trời về khuya tay mẹ rã rời
Con mệt mỏi gục vào vai mẹ
Tiếng đã khàn vẫn ư ử không thôi
Đường ngoài kia đã vắng bóng người
Sao thưa thớt, ngọn gió lùa se lạnh
Để rồi:
Tiếng còi tàu đêm thâu lanh lảnh
Như nhân thêm nỗi nhớ khôn cùng
Không một từ “cô đơn”, không một lời oán thán. Chỉ có tiếng còi tàu – tín hiệu của những cuộc lữ hành vạn dặm xa xăm vọng về. Không biết là đời thực hay chỉ là tiếng còi tàu nhắc nhở trong thẳm sâu về sự thiếu vắng người chồng của mình, người cha của con. Tiếng còi tàu lanh lảnh dội vào đêm trả lời tiếng gọi bố khoắc khoải của con thơ làm se lòng thiếu phụ. Cảnh huống ấy có lẽ khiến lòng chị tràn lên sự thương xót cho con và cho thân phận của mình!
Không chỉ yêu thương, chăm lo cho con, nhà thơ còn sẵn sàng làm việc cùng con, học cùng con. Thật cảm động về tấm lòng người mẹ khi:
Nửa cuộc đời mẹ vẫn thức hằng đêm
Để chứng mình bài hình lớp bảy


(Học với con)
Với một người mẹ tận tụy như vậy thì kết quả học tập tốt của con có khác nào liều thuốc bổ dưỡng mang lại sức khỏe và hạnh phúc cho mẹ:

Mỗi lần con được điểm mười
Lòng mẹ phơi phới như thời thanh xuân
….
Mẹ nhìn vóc dáng con yêu
Ngày cây đơm quả bao nhiêu đợi chờ


(Con được điểm 10)

Lẽ đời tuân theo luật nhân quả. Mẹ gieo hạt giống tốt, trồng trên đất lành là tình yêu thương của mẹ, lại được mẹ dày công chăm bón bắt sâu tỉa lá thì những đứa con sẽ mạnh mẽ bước chân vào đời bởi đã luôn có mẹ cạnh bên chở che, tin tưởng.
Đường rực rỡ ánh bình minh phía trước
Vững vàng lên con trong mỗi bước đi


(Học với con)
Làm mẹ là thiên chức cao quý và cũng khó khăn mà tạo hóa đã giao cho người phụ nữ. Mang nặng đẻ đau, rồi lo sao cho khi sinh nở “mẹ tròn con vuông”. Nhưng…

Tràn ngập niềm vui là lúc sinh con
Và sau đó là nỗi buồn bất tận
Và khi:
Con khôn lớn nỗi lo thành gấp bội
Đêm không ngủ nằm nghe cơn gió gọi


(Lo)

Biết bao nhiêu nỗi niềm tầng tầng lớp lớp phủ kín mà thành rong rêu đời mẹ, sương giá đời cha. Con lớn rồi, con bước vào đời cũng sẽ phải bước đi trên đường đời – đường tình bao chông gai cạm bẫy. Những mơ ước cuộc sống – tình yêu của con bây giờ là con đường ngày xưa mẹ đã trải qua. Đáng sợ đáng lo lắm (cho con)! Mẹ lo thì lo vậy thôi bởi vì mẹ không thể không lo cho con của mẹ. Nhưng mẹ vẫn biết rằng, mẹ lo cho con nhưng mẹ không thể thay con chọn lựa và bước đi trên con đường của con được. Vì vậy, con yêu ơi:
Đường vào tim như lên hái vì sao
Đầy nguy hiểm bởi bốn bề cạm bẫy
Để có được thì con ơi đừng ngại
Hãy đi tìm vì sao của riêng con…


(Vì sao của con)

Phải chăng đó là tiếng lòng của người mẹ giục giã đứa con yêu của mình hãy dũng cảm đối mặt với muôn vàn khó khăn nguy hiểm trong cuộc sống đời thường, là con đường tất yếu để hái được những hoa thơm quả ngọt của cuộc đời.
Người cha như cây cao bóng cả chở che cho gia đình lại đang ở quá xa. Nên chị đành một mình hoàn thành hai nhiệm vụ: vừa phải làm mẹ, vừa phải làm cha. Thế nên, chị lại thay chồng chở che cho những đứa con nhỏ bé của mình trước giông tố của cuộc đời:
…Ừ, con ngủ cho ngoan
Nếu con ma kia đến
Mẹ tóm cổ nó liền
Làm thịt cho con chén …
Và để cho đứa con yên tâm rúc đầu vào lòng mẹ:
“ Con sướng cười khoái chí
Dim mắt vào giấc mơ “


(Đã có mẹ bắt ma)
Và sau tất cả những hy sinh, thương yêu lo cho con nên người, nhà thơ Phương Đông không quên dạy con mình phải sống thẳng thắn, đùm bọc, yêu thương, ân tình, nhân nghĩa::

Chị ngã em phải nâng
Luôn đùm bọc yêu thương
Khi em đói chị nhường
Buồn vui cùng chia sẻ
Và chị cũng nhắc nhủ các con rằng:
Chân thành với bạn bè
Lòng bao dung nhân ái
Không ích kỷ, tham lam
Không làm điều sai trái


(Nói với con)

Dặn dò con mọi lẽ, người mẹ chắp cho con thêm đôi cánh “Nhân – Lễ - Nghĩa” để bước chân con vào đời luôn mạnh mẽ. Có một người mẹ luôn cổ vũ động viên như vậy, những đứa con của chị nhẽ nào lại không hiểu, không thương mẹ để rồi báo hiếu cho sự tận tụy bao la của mẹ bằng sự thành đạt và hiếu thảo của mình cơ chứ?!
Trong suốt mảng chủ đề này, “con” không chỉ là đối tượng thương yêu. “Con” là tri âm, tri tình để nhà thơ bộc bạch nỗi niềm, là ánh sáng mặt trời sưởi ấm lòng người mẹ trong mùa đông giá rét, là niềm khát khao hy vọng của chị :
“ Con tỏa ngát hương say
Theo cuộc đời của mẹ”


(Mẹ - Con)

Chị thương kể cho con nghe câu chuyện của con bằng chính giọng điệu bi bô líu lo. Chị nói với con những lo toan lòng mẹ như nói với những người bạn đồng trang lứa. Thơ chị toát lên một niềm tin tưởng vào sự chia sẻ và thấu hiểu của con với mình rất vững chãi.
Sử dụng thuận tay Phương Đông nhất khi kể chuyện cho con nghe là thể thơ 5 chữ. Có đôi khi, chị bị rơi vào trạng thái suy tư, khi đó, thể lục bát được chị chọn lựa. Mỗi bài thơ là một tấm thiệp ngắn ngắn xinh xinh mà chị viết cho con bằng lối nghĩ của trẻ khiến cho thơ trong veo như làn nước mùa thu soi tận đáy hồ lòng mẹ. Thơ cho con mà Phương Đông viết là lời ca dao con cò bay lả bay la ấp iu con khôn lớn.
Chị làm thơ cho con, cho mình, lý do sáng tác chỉ để giãi bày tình cảm cá nhân nhưng tôi tin các bà mẹ khác khi đọc thơ chị đều sẽ thấy bóng dáng mình và con mình trong đó.
"Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi" (Lưu Trọng Lư). Tôi tạm gọi những tấm thiệp thơ xinh mà chị tỉ mẩn quan sát, viết vẽ những yêu thương của mình lên đó là “Đồng dao của mẹ”. Những bài đồng dao mà chị đã hát, kể cho con nghe trong những đêm thanh vắng một mình nuôi con, chờ chồng.
Nếu sau này, Phương Đông ra một tập thơ riêng chỉ in những bài thơ mà chị đã viết cho con, tôi sẽ là người đầu tiên xin mua tập thơ ấy. Bởi tôi đã thấy, qua những bài thơ chị viết, ký ức mãnh liệt về tuổi thơ của mình, sự hiền dịu của mẹ tôi và những người mẹ khác.
Nhà thơ Lưu Thị Phương Đông
Lời tình quê hương

Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết: “Quê hương là chùm khế ngọt, cho ta trèo hái mỗi ngày”
Đối với Phương Đông, quê hương là nơi lưu giữ tâm hồn. Chị tâm sự: “Bút danh Phương Đông là một sự gợi nhớ đến quê hương Thái Bình”. Chị làm việc và sống ở Hà Nội, xét về vị trí địa lý thì Thái Bình ở hướng Đông. Phương Đông yêu mẹ, yêu con. Nơi nào mẹ ở, nơi đó mặt trời mọc sưởi ấm trái tim con người.
Không biết nhà thơ có chủ ý gì không chứ người đọc cảm rằng nhà thơ yêu đời và yêu cuộc sống quá. Một năm bốn mùa tuần tự qua đi. Người ta thường có thói yêu nhất mùa nào đấy và những mùa còn lại ít được để tâm. Còn với Phương Đông, mùa nào chị cũng tìm ra cớ để vui, để hạnh phúc.
Như khi Xuân về, trong cái rộn ràng của đất trời thì nhịp tim thơ dồn dập, lòng nhà thơ đắm say:
Mưa Xuân mờ trắng màu mây
Gió Xuân hây hẩy trên cây rộn ràng


(Xuân về)
Rồi khi hạ đến, nhà thơ lắng tai, lắng lòng cảm nhận:

Xanh rờn hàng sấu, hàng me
Tiếng ve nghiêng nửa trưa hè nắng oi.


(Hạ về)

Gió xuân hây hẩy thì dễ hiểu quá, nhưng tiếng ve sao lại “nghiêng nửa trưa hè” nhỉ? Phải chăng nhà thơ nhận thấy, trưa mùa hè ve sầu ca nồng nhiệt quá. Dàn hợp xướng đó như cô đặc lại, càng lúc càng nặng hơn và kéo bầu trời mùa hạ “xệ” xuống một chút. Hoặc cũng có thể vì nhà thơ rất thích tiếng ve nên đã nghiêng tai để được nghe kỹ hơn. Trong tư thế đó, quả là bầu trời mùa hè chao đi trong làn nắng oi ả.
Vào ngày thu trở lại, thu hao gầy như dáng đợi chờ của người thiếu phụ. Dẫu vậy, chị vẫn nhìn ra trong thu bóng dáng một tình yêu tha thiết không muốn chia lìa
Thu sớm phai tàn thương lá cây
Nhung nhớ mùa thu đã rụng đầy
Cánh hoa muộn màng bay theo gió
Ngập ngừng hương cuối phút chia tay


(Thu)

Và mùa đông lạnh giá đã quay trở lại. Mùa đông khắc nghiệt như những thử thách của cuộc đời. Thế nhưng, cái lạnh lùng của đất trời đâu thể ngăn trái tim run rẩy đón nhận bình minh ngày hạnh phúc đang đến:
Cây trơ cành còn lại chiếc lá bay
Tiếng rơi khẽ, như sợ người tỉnh mộng
Tiếng chim kêu, bỗng đất trời xao động
Thoáng vỡ òa, một ngày mới đang lên


(Đông)

Quê hương không chỉ là cảnh đẹp đất trời và bốn mùa luân chuyển. Trên bước đường lập nghiệp phương xa, quê hương là nơi muốn được trở về khắc khoải từng đêm, bởi nơi đó, tuổi thơ thật đẹp. Những mùi vị ấu thơ mà nhà thơ đã trải qua và hoài niệm là tài sản vô giá chẳng thể tìm lại được:
Chiều quê hương nồng đượm
Mùi hương bưởi, hương chanh
Gió vương vít trên cành
Ráng trời ngời sắc tím
Những đêm chơi trốn tìm
Trăng vàng như nắng hạ
Khóm tre xào xạc lá
Bóng cau vương trên thềm
Những năm tháng phải phiêu bạt kiếm ăn nơi quê người, chị luôn đau đáu trong lòng nỗi nhớ quê khôn nguôi, nhớ ánh trăng vàng, dòng sông, bóng cau, bụi chuối – những thứ thật giản đơn nhưng nó luôn đeo đẳng những người con xa xứ sở. Mỗi khi có dịp trở về quê mẹ chị lại đắm mình vào những dòng kỉ niệm mênh mông ấy:
… Hôm nay lúa trên đồng
Cũng vàng như thuở ấy
Tôi tìm ngày thơ dại
Trong trăng vàng mênh mông…

( Ngày ấy)
Quê hương là cha mẹ, nhưng rồi có một ngày khi trở về:

Dạ lan thơm nức vườn nhà
Sương rơi đẫm lá ngỡ là mưa xuân
Vườn xưa vắng bóng hai thân
Nhà nay hoang lạnh muôn phần xót xa


(Đêm cố hương)
Và nhà thơ xót xa thương nhớ người mẹ tảo tần:

Đời Mẹ nghèo với tháng năm dầu dãi
Với gió sương, chiu chắt, sẻn dè
Dành cho con bát cơm trắng đồng quê
Manh áo mới chứa chan tình mẫu tử!


(Nhớ mẹ)
Nhớ cha, chị nhớ đến những lời cha đã dạy mình năm xưa:

Con cố gắng
Thành một con người
Theo đúng nghĩa
Biết sẻ chia
Với phận thấp hèn
Không vì tiền
Mà quên tình nghĩa
Không vì lợi
Mà quên luân thường
Đảo điên đạo lý


(Lời cha dạy)

Trong chủ đề về quê hương, Phương Đông thiên nhiều về miêu tả cảnh vật, mượn cảnh nói tâm, mượn vật nhắc đến thân phận. Thủ pháp này trong thơ Phương Đông được sử dụng nhuần nhuyễn, khá phù hợp với tâm trạng người phụ nữ phải gánh vác gia đình. Tiêu biểu cho thể tài này là các bài thơ: Hoa lau, Hương ngô, Mùa hoa cau nở, Viếng cỏ may…. Hình ảnh những sự vật như hoa lau ẩn chứa trong đó sự chịu đựng và dám đối diện với cuộc đời đâu sợ gì mưa gió.
Dáng mảnh mai mềm yếu
Thắm mãi cùng nắng, mưa
Trong gió rừng muôn thưở
Có hương lau rì rào…

(Hoa lau)

Phương Đông cũng viết nhiều về cảnh đẹp những nơi chị có điều kiện đặt chân đến. Đó là địa đầu Tổ Quốc, các danh lam thắng cảnh đất nước Việt Nam và nước ngoài. Tới đâu chị cũng dùng đôi mắt tinh tường để lưu lại những khoảnh khắc đẹp, cảm xúc và sự chiêm nghiệm của mình. Thi thoảng, chị cũng buông bút được những tứ thơ độc đáo
Lang thang mây dạo lưng đồi
Chợt nghe như tiếng sương rơi khẽ khàng


(Đêm Tam Đảo)

“Tiếng sương rơi thì khẽ lắm!” - nhà thơ đã nói với tôi như vậy. Điều đó muốn nói rằng ý thức của nhà thơ đã lắng lại rồi, lắng nhiều rồi nên mới nghe được tiếng sương rơi đó chứ. Từ mây lang thang trở thành những giọt sương rơi, đó là một sự chuyển hóa thầm lặng và vô ưu nhất. May mắn thay nhà thơ đã nghe và cảm nhận được điều đó.
Tập thơ Nửa vầng trăng (xuất bản năm 2004) và tập thơ Giữ lại hồn thu (xuất bản năm 2010) in cách nhau một khoảng thời gian dài. Bút pháp thơ của Phương Đông ngày càng đi dần vào sự chiêm nghiệm. Bằng tấm tình yêu quê hương đất nước, đến nơi đâu chị cũng muốn được thể hiện sự tự hào về Tổ quốc tươi đẹp. Tuy vậy, phong cách viết của chị mang tính ổn định với xu hướng ngôn ngữ thơ gần gũi, tiết chế về mặt tình cảm, chắt lọc được những hình ảnh thơ gây rung động. Dễ nhớ, nhỏ nhẹ là cách thơ của Phương Đông. Rất hiếm hoi chúng ta mới nhìn thấy một Phương Đông nam tính hùng hồn ngợi ca đất nước non sông bằng giọng điệu của những nam nhi “đầu đội trời, chân đạp đất”.
Dưới chân anh mây trắng đón chào
Trên đầu anh trời xanh vô tận
Nghe thoảng tiếng lời cha ông dặn
Mỗi tấc đất này đã thấm máu người xưa
….
Máu trong tim như dâng trào lên mãi
Trước hồn thiêng sông núi muôn đời
Máy trên vai, chân lại đạp núi đồi
Lại bước tiếp dấu chân người đi trước

(Hồn sông núi)

Mắt thương nhìn đời


Là một người mẹ - nhà thơ Phương Đông trong trẻo, dịu dàng. Là một người con quê hương Thái Bình, chị yêu quê bằng một tình yêu thấm đẫm rạ rơm đồng nội. Ngoài hai tấm tình thương mến đó, người đọc còn nhìn thấy trong thơ một Phương Đông nhìn đời bằng đôi mắt trải nghiệm và thấu hiểu.
Đến Thượng Hải – một thành phố giàu có và hoa lệ của Trung Quốc, nhà thơ gặp một người hành khất nghèo khổ đang quỳ trên đường phố xin người đời bố thí chút tình thương để sống, lòng chị dấy lên niềm thương cảm nhân hậu chân thành:
Tôi cũng biếu ông một đồng tiền
Bằng tấm lòng người lữ khách phương Nam
Đang dạo gót cùng mùa đông trên phố
Mong trời cao đoái thương phận nhỏ
Để người người chung một ước mơ xanh…

(Người hành khất)

Bài thơ thực ra không gây được ấn tượng lắm bởi vì không nổi bật về ngôn từ cũng như cú pháp. Tuy nhiên, khi đọc lại lần hai, người đọc chợt nhận ra sự ý tứ của Phương Đông khi chị ngầm bày tỏ ba chủ thể cùng xuất hiện: Thượng Hải phồn hoa – Người ăn xin quỳ trên hè phố - Người lữ khách đang thong thả dạo gót cùng mùa Đông. Thượng Hải thì giàu có mà sao vẫn có người ăn xin?! Và trong khi người hành khất tội nghiệp đó đang run rẩy trong giá rét để chờ sự bố thí của người đời thì lại có một vị khách – là nhà thơ – đang nhàn tản thả bộ trên đường để thụ hưởng mùa đông Thượng Hải đẹp rạng ngời. Ba chủ thể khác biệt nhau đẩy sự thương tâm cho cảnh đời đói khổ của người hành khất lên một bậc cao hơn. Ta càng trân quý hành động nhỏ mà mang ý nghĩa lớn của nhà thơ trước phận người nhỏ bé ấy.
Cũng cùng một cảm xúc đó, khi Phương Đông đến chùa lễ Phật, chị kêu lên thảng thốt:
Nơi cửa Phật thâm nghiêm
Sao lắm ăn mày thế?
Run rẩy tấm thân già
Tím thâm làn da trẻ


(Ăn mày)
Thế rồi ngước lên tòa sen, chị tự hỏi:

Từ tòa sen cao ngất
Thản nhiên Phật mỉm cười
Trước mặt đầy hoa tươi
Quanh mình hương trầm ngát
Tay luôn lần tràng hạt
Phổ độ cứu chúng sinh!


(Ăn mày)

Vâng, nhìn những cảnh khổ đau của trần gian với nhiều phận hèn mọn không ai đoái thương, chị hoài nghi vào thuyết lý “phổ độ chúng sinh” của nhà Phật. Khi chị nhìn lên Phật ngự trên tòa sen cao ngất, nụ cười an lạc của đức Phật sao "vô cảm" đến vậy?! Đôi khi vì bối rối không thể tự lý giải được hết những trái ngang của cuộc sống, con người ta thường có xu hướng hoài nghi vào chân lý và cả các giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Bởi nếu Phật cứu được chúng sinh vậy sao vẫn còn nhiều ăn mày đến thế?!
Trong sự tự vấn và truy vấn cả triết lý của Phật, nhà thơ đang bày tỏ sự bất lực của chính mình, xã hội, và cả các thế lực siêu nhiên đang dường như cùng dửng dưng trước những cảnh khốn cùng mà không có phương án gì khả thi để giải quyết.
Chị cũng băn khoăn về giá trị của “vàng” và “thau” trong đời sống xã hội. Xưa kia, vàng – thau được sử dụng làm hệ giá trị đánh giá phẩm chất con người (trên nghĩa bóng). Người quân tử tự ví mình như vàng, “lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Thông thường, khi gặp chuyện bị hiểu nhầm, bất như ý, người ta thường tìm cách chứng minh mình không như vậy. Riêng nhà thơ Phương Đông không biện giải gì cả:
Vàng ròng phải ở với thau
Bị đem thử lửa, làm đau lòng vàng
Thôi thì đời lắm đa đoan
Vàng ta đành ngậm tiếng oan một thời
Mai ngày sóng lặng, gió vơi
Bình minh bừng sáng, đất trời phong quang


(Vàng và thau)

Độ mươi năm trở lại đây, không hiểu sao cụm từ “đồ nhà quê” được dùng rất nhiều khi người ta tỏ ý chê bai, dè bĩu những con người hoặc phẩm vật gì đó dân dã, giản dị. Người Việt Nam ta đều xuất phát từ nông thôn mà ra cả, sao lại nỡ quay lưng phủ nhận nơi chốn đã nuôi lớn mình. Là một người con quê lúa Thái Bình, tuy rời rơm rạ đồng chiều đã lâu nhưng Phương Đông luôn yêu thương, trân trọng tất cả các giá trị đã làm nên con người mình. Người đọc rất thú vị trước bài thơ “Gái quê” của chị. Đó là một sự nhắc nhở ngầm những ai luôn ưa thích chạy theo ảo vọng và giá trị hình thức bên ngoài
Này những trái cam tươi
Đây khoai vàng mật ngọt
Cơm thơm mùi gạo mới
Đượm giọt mồ hôi ai?
Vì thế nên chị nhắn nhủ rằng:
Từ quê lúa, quê khoai
Áo bạc màu chân đất
Xin đời đừng khe khắt
Bởi em là gái quê!


(Gái quê)

Nhà thơ Phương Đông hay quan sát, hay đặt câu hỏi và đánh giá vấn đề. Tuy nhiên, người đọc thấy mừng bởi vì ở chị sự thiên kiến và phán xét không nhiều. Ngay cả khi gặp những việc chướng tai gai mắt, cũng chỉ thấy chị ý nhị nêu lên vấn đề chứ không gay gắt.
Ví dụ như bài thơ “Đường Hà Nội”. Ai ở Thủ đô đều biết những khó chịu khi lưu thông trên đường phố lúc vào tầm và khi tan tầm:
Chẳng cần theo luật lệ
Ô tô dàn hàng ngang
Ỷ thế mình kềnh càng
Chiếm hết đường xe máy
Gà tức nhau tiếng gáy
Thì trèo lên vỉa hè
Hất mông người đi bộ
Kẻ yếu thật xấu số
(Đường Hà Nội)
Đấy, Phương Đông chỉ đặt lên một câu hỏi rằng: “Trong một xã hội mà kẻ yếu sẽ xấu số” thì xã hội đó và con người trong xã hội đó đi về đâu?!
Thế nên, đôi khi, Phương Đông thực hiện một cuộc chạy trốn cho tâm mình.
Tránh xa bụi bặm hàng ngày
Dòng sông ô nhiễm, hàng cây xô bồ
Rừng không có chả, nem, giò
Đói lòng ăn quả trám kho thấy bùi


(Lên rừng)

Thế nhưng, cuộc lánh đời này chỉ là sự tạm thời, như là dừng lại trạm xăng đổ đầy xăng vào bình rồi lái xe đi tiếp, nhà thơ lại tự nhủ:
Ngày mai tôi lại đi về
Với nơi bụi bặm, còi xe ồn ào


(Lên rừng)

Qua thơ, người đọc cảm nhận Phương Đông là một người phụ nữ dịu hiền nhưng cũng rất mực quyết liệt với cuộc đời. Những khi cần yêu thương và hiến tặng sẽ yêu thương, hiến tặng hết mình. Và ngược lại. Phương Đông yêu công việc của mình. Rồi khi chuyển công tác nhiều nơi và các vị trí công tác mới không giống với công việc chị được đào tạo và đã theo đuổi nó mười mấy năm, chị làm hẳn bài thơ “Tiễn đưa nghề” với tâm tư thật bùi ngùi, xúc động
Bao năm đèn sách thưở hàn vi
Thức suốt thâu đêm chẳng quản gì
Tưởng sẽ cả đời bên nhau mãi
Nào ngờ đứt gánh phải chia ly
Rồi chị lại tự an ủi chính mình:
Thôi đành dứt áo tình tri kỉ
Đau lòng người ở, kẻ ra đi
Bạc bẽo xoay vần tay Tạo hóa
Lẽ đời vốn vậy, tiếc mà chi?
Thật hiếm có người phụ nữ nào yêu nghề đến mức xem nghề là tri kỷ tri âm như chị. Thật khâm phục!
Vậy đó, điểm qua một số tác phẩm, người đọc càng lúc càng nhận ra cái “tâm” của chị thật sâu, rộng. Dám nghĩ, dám làm, dám chịu. Dù hoàn cảnh có đẩy đưa thế nào thì Phương Đông vẫn luôn giữ cho mình một sự nhân hậu, bao dung và yêu lắm cuộc đời này.

Ước mơ hạnh phúc

Câu chuyện đi tìm công thức hạnh phúc xuất phát từ bài thơ “Điều giản dị” của nhà thơ Phương Đông đã đi được gần hết chặng đường. Chúng ta thấy nhà thơ hạnh phúc trong vai trò làm mẹ được chăm sóc những đứa con ngoan; hạnh phúc vì được quê hương và cuộc đời che đỡ dù rằng vẫn có đó bao nhiêu xây xước; nhà thơ cũng hạnh phúc khi được có điều kiện để sống hướng thiện và san sẻ những gì chị có đến những người thiếu may mắn hơn mình.
Nhưng chúng ta vẫn chưa thấy góc sâu kín nhất của tâm hồn một người phụ nữ, chúng ta vẫn chưa nhìn thấy trái tim chị đập đằm thắm dịu dàng hay nồng nhiệt, say đắm ở góc yêu thương.
Có dịp nói chuyện cùng chị, người đọc hiểu được phần nào cuộc sống và tâm tư của chị. Nhưng, hãy đi vào thơ, ở đó, thơ sẽ mách cho chúng ta tất cả những bí mật trái tim của người phụ nữ này.
Không giống với hình ảnh người mẹ giang tay bảo vệ những đứa con thơ của mình, không quyết liệt như khi chị đứng thẳng đối diện với cuộc đời, người phụ nữ khi yêu trong thơ chị thật nhút nhát, e thẹn:
Những đêm dài trăn trở
Thức với cùng trăng mơ
Thức với cùng nỗi nhớ
Ấp ủ bao tháng ngày
Người con gái đó chỉ biết nhờ gió gửi tấm tình mình đến ai kia.
Lại tới mùa heo may
Lá vàng bay trong gió
Xin mang cùng nỗi nhớ
Tới bên người em yêu
Và cho tới khi lập gia đình, hạnh phúc còn chưa nếm trải hết đã phải chịu đựng nỗi nhớ chồng những ngày cách xa đằng đẳng. Tôi biết Phương Đông có một người bạn, đó là ánh trăng. Trăng tràn ngập trong những vần thơ cô đơn, buốt lạnh. Trăng che chắn, bảo bọc một trái tim hao gầy vì nhung nhớ. Trăng chia sẻ những tủi cực gian nan cuộc đời chị.
Khi con gái khóc đòi tìm bố, trăng rọi sáng cho mẹ con những ngỏ nhỏ
Mẹ bế con đi dưới ánh trăng tròn
Con mếu máo chỉ chỗ này chỗ nọ


(Đi tìm bố)
Con trẻ mếu máo đi tìm bố, còn nhà thơ cũng rưng rưng cô quạnh trong lòng, may mà có ánh trăng chia sẻ nỗi nhớ khôn cùng đó.

Hay như khi nhà thơ một mình suy nghĩ, thương nhớ chồng mà chẳng để ý đến trăng, hờ hững với trăng, thì trăng vẫn đứng đó, hiền hòa soi chiếu tâm tư, giúp chị viết trọn bài thơ
Trăng vàng lơ lửng ngoài kia
Vàng hơn nắng, để hàng tre xạc xào
Ngọt ngào hương cỏ xôn xao
Vài con đóm nhạt chìm vào ánh trăng
Trăng vàng nhưng chẳng có anh
Vo tròn nỗi nhớ, hóa thành câu thơ


(Tự cảnh)
Ngay cả trong mùa đông lạnh lẽo, trăng đang yếu ớt phần mình mà vẫn cứ cố sáng, cố tròn để an ủi người thiếu phụ cô đơn

Trăng mùa đông sáng đục
Gió mùa đông lạnh lùng
Sương mùa đông trắng bạc
Đêm mùa đông mông lung


(Đông lạnh)
Và khi chị đi công cán ở nước ngoài, trăng ở bên kia địa cầu cũng hiền hòa ngắm nhìn và mỉm cười với chị

Dù ở nơi nào trăng vẫn cứ vô tư
Vẫn thủy chung sau trước, hiền từ
Vẫn ảo huyền, lung linh, lộng lẫy
Vẫn thiêng liêng, huy hoàng là vậy
Muôn năm trăng trẻ mãi, không già


(Trăng xứ người)

Với Phương Đông, dường như tình yêu là một vì sao xa, mà đường đi đến đó nhiều chông gai lắm lắm
Đêm ngày em nhớ
Đi tìm ánh sao
Mênh mông vũ trụ
Biết tìm nơi đâu?


(Đi tìm ánh sao)
Và tình yêu, sao cứ mãi là tình xa xôi:

Tình ta ở đôi nơi
Đầy, vơi niềm thương nhớ
Dù núi sông cách trở
Bao năm em vẫn chờ


(Đợi chờ)
Yêu mà không được ở cạnh người mình yêu, vầng trăng khuyết còn một nửa:

Nửa vầng trăng ở nơi đâu
Còn đây một nửa – nơi đầu nhớ mong
Tiếng chim như xẻ cõi lòng
Hương đêm như thấm vào trong nỗi buồn


(Nửa vầng trăng)

Khi đã yêu, ai cũng trải qua những cung bậc thương nhớ, đợi chờ, hờn giận, say mê. Phương Đông cũng có đủ cảm xúc đó nhưng dường như chị phải nén lòng nhiều quá!
Giờ này, anh nơi đâu?
Khi nắng chiều gay gắt
Mây trắng trôi lững lờ!
Giờ này, anh nơi đâu?
Khi hoàng hôn buông xuống
Con thơ ra cửa chờ!


(Nhớ)

Nhưng sau bao nhớ thương, đợi chờ, khi được ở cạnh nhau, thì vầng trăng tình yêu đã có chút hao khuyết theo những tháng năm dài xa cách. Dường như, từng có lúc nhà thơ dự định:
Bến đã chẳng hiểu thuyền
Thì đành chia tay vậy
Bởi kiếp xưa chưa hẹn
Để nay thành vô duyên


(Bến và thuyền)

Thâm tâm dự định là vậy mà sao trong nhau còn đó những tiếc nuối khôn nguôi
Thời gian điểm bạc mái đầu
Thuyền sai bến đậu, biết đâu mà tìm
Người thì như thể cánh chim
Còn tôi thì với trái tim đau này
Ước gì trở lại những ngày
Để tôi dâng trái yêu này cho ai…


(Tiếc nuối)
Cuộc sống có bao giờ đứng yên, có bao giờ là mãi mãi một điều gì đó. Khi trái tim còn khao khát yêu thương thì tình yêu vẫn còn sống khỏe mạnh ở cái nơi mà mình giấu diếm đó thôi. Ngày nào đó, khi con tạo xoay vần, bỗng dưng "gương vỡ lại lành", tình yêu lại đến trổ cành đơm hoa:

Tình yêu cuối đã quá thời son trẻ
Mà vẫn ngọt ngào, vẫn kỳ kiệu xiết bao
Vẫn nhớ mong da diết hệt thưở nào
Trái tim chết đã hồi sinh trở lại


(Tình muộn)

Hạnh phúc sẽ đến với những ai biết chờ đợi và luôn nuôi dưỡng trong tim mình một niềm tin vào ngày mai tươi sáng bởi những yêu thương góp nhặt mỗi ngày. Một người phụ nữ hiền dịu, nồng ấm, bao dung tất nhiên sẽ hạnh phúc, phải không các bạn?!
Lời kết:
Nhà thơ Sóng Hồng đã viết: “Thơ là thơ, đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng”.
Phương Đông làm thơ như vậy đó. Thơ chị không trau chuốt, không sâu xa, không cầu kỳ cấu tứ. Thơ là hơi thở, là suy nghĩ, là tâm tư, mà như Nhêcơraxop nói “Trong tâm hồn con người đều có cái van mà chỉ có thơ ca mới mở được.”
Thật may mắn trong những tháng năm tuổi trẻ vật lộn với cuộc sống, chị có thơ làm bầu bạn. Người đọc nghĩ, những mong ước hạnh phúc của chị thật hiền dịu, đơn giản. Hạnh phúc đâu phải hái những vì sao làm quà tặng nhau mà chính là cho nhau những nụ cười, ánh mắt yêu thương và sự san sẻ cùng nhau đoạn đời gian khó, và đôi khi là chấp nhận nhau ở mọi điều hay và chưa hay lắm. Và nghiệm rằng, những sự tinh tế nhất trên đời, gây rung cảm nhất trái tim loài người cũng đều đến từ những điều giản dị. Tôi thích bài thơ “Điều đơn giản” của chị, xin được trích đoạn mượn làm lời kết cho cuộc hành trình tìm kiếm hạnh phúc gửi đến những người đàn ông Việt Nam được hiểu tâm tư của giới nữ chúng tôi. Và xin chúc cho tất cả chị em phụ nữ đều được hưởng một cuộc sống bình yên, hạnh phúc đích thực vun vén từ khát vọng của bản thân mình và sự chung tay xây đắp của những người thân yêu xung quanh.
Chúng tôi chỉ ước những điều đơn giản
Một gia đình với những đứa con ngoan
Là hạt lúa, nương ngô với những mùa vàng
Là những vườn cây mọng hồng trái chín
Cánh chim chao nghiêng trong hoàng hôn tím
Là ánh trăng vàng trải khắp quê hương
Trong tình người nhân ái, thân thương
Trong bao dung, vẹn toàn, độ lượng
Trong nhọc nhằn, chắt chiu khuya sớm
Vẫn thủy chung nghĩa vợ, tình chồng

***


Hạ Vũ

Thúy Lan, một hình ảnh hiện đại



Tôi đọc truyện thơ Thúy Lan của nhà thơ Lê Hữu Bình từ những ngày cuối năm bộn bề tất tả kéo dài ra đến hết tháng giêng. Vì không có thời gian nên đã đọc rất lâu. Mỗi lần một ít, vừa đọc vừa suy ngẫm. Cho đến khi kết nối những cảm nhận, bỗng từ sâu thẳm tràn lên một thứ tình êm ái, biết ơn tuy rằng đây đó vẫn còn một số vấn đề cần giải tỏa. Qua cuộc đời nhân vật Thúy Lan, nhà thơ đã ý nhị lồng vào đó sự thấu cảm và bao dung cho những khắc khoải danh - phận – bản ngã của người phụ nữ hiện đại.

Cuộc sống ngày càng hối hả với nhiều hơn những gánh nặng lo toan, trách nhiệm. Đi đến đâu cũng thấy thiên hạ giương cao ngọn cờ sống nhanh, năng động, hiệu quả. Giờ đây, người phụ nữ không những luôn phải duy trì ngọn lửa phẩm chất “công, dung, ngôn, hạnh” theo tư duy mới mà còn cần thấu hiểu lẽ “tam tòng” phù hợp với vai trò xã hội thì mới có thể đảm đương được sứ mệnh mà tạo hóa giao phó. 

Mấy trăm năm nay, người Việt Nam ta vẫn tự hào về một nàng Thúy Kiều tài sắc lẫy lừng
“Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước, nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Tuy cuộc đời chìm nổi nhưng Kiều đã sống bằng phẩm chất của đóa sen hồng “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Trong sự sắp đặt của số phận và định kiến xã hội vẫn muốn vượt lên bằng chữ “Tâm” không đổi.

Còn Thúy Lan, người phụ nữ Việt Nam hiện đại, nàng đã đối diện cuộc đời với tâm thế như thế nào?

Bền bỉ tình thơ

Nhà thơ Lê Hữu Bình, tác giả truyện thơ Thúy Lan, vốn là một người lính. 30 năm quân ngũ trải bao cảnh huống sinh tử lúc chiến tranh, hay khi chịu va đập bởi những cơn sóng gió của cuộc đời và lòng người. Trải nghiệm đó cô gọn lại trong hành động và con người Thúy Lan – nhân vật mà nhà thơ thai nghén suốt quãng đời trước.

Lê Hữu Bình quê ở Hoàng Học, Đông Hoàng, Đông Sơn, Thanh Hóa. Ông viết Thúy Lan trong ròng rã ba năm. Sau ba lần chỉnh sửa bản thảo, rồi gửi cho các đồng đội, bạn hữu xem, nhận được nhiều ủng hộ, Hữu Bình đã xuất bản tập truyện thơ bằng sự “dũng cảm” của một người lính. Bởi như ông tâm sự: “Tuy rằng thời niên thiếu là một người học văn giỏi, nhưng số phận an bài theo con đường binh nghiệp, chỉ biết cầm súng bảo vệ đất nước khi chiến tranh cũng như thời bình. Có làm thơ thì cất kỹ, chưa từng nghĩ cho ai đó đọc chứ đừng nói đến việc xuất bản hẳn một truyện thơ dài hơn 4000 câu như thế”.

Duyên do tác phẩm cũng khởi sự từ một mơ ước tuổi trẻ. Học truyện Kiều, Hữu Bình khâm phục Nguyễn Du và ngưỡng mộ Thúy Kiều về tài lẫn sắc. Nhưng vì Kiều dù đẹp, dù tài, dù lòng nhân ái bao la thì Kiều vẫn là một nhân vật có xuất xứ từ Trung Quốc. Lòng yêu nước nên ước mơ sẽ viết nên một tác phẩm về một phụ nữ đích thực, sống và hành động bằng cái “tâm” của người Việt Nam thuần hậu. Tên “Thúy Lan” là ký ức đẹp của người lính trẻ Lê Hữu Bình năm xưa từng hành quân qua biết bao cánh rừng nguyên sinh ngạt ngào hương trong những mùa phong lan nở. Để từ đó, khảm khắc trong lòng người lính ấn tượng sâu đậm về loài hoa đài các, tuyết lệ thanh tao mà cũng vô cùng quyết liệt sinh tồn.

Truyện thơ Thúy Lan là bức tranh xã hội đa dạng với nhiều mảng sáng, tối đối lập chan chát. Nhà thơ chọn thể Lục bát uyển chuyển, dễ đọc, dễ thuộc làm phương thức biểu đạt. 

Nhà văn M. Gorki từng nói: “Người sáng tác là nhà văn và người tạo nên số phận cho tác phẩm là độc giả”. Giá trị của truyện thơ Thúy Lan là thuộc về xã hội và độc giả. Còn trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ phân tích tác phẩm trên một số bình diện khoa học nhằm đánh giá các giá trị nhân văn mà tác giả gửi gắm đến người đọc.

Đi tắt cuộc đời nhân vật

Thúy Lan, không tránh khỏi mô týp nhân vật văn học kinh điển, vốn là một người con gái tài sắc, xuất thân danh giá.
Thúy Lan cô gái Hà thành
Đẹp xinh đến mức “chiến tranh” vì nàng
Bút nào tả nổi dọc ngang
Văn nào lách được những đường nét hoa
Khi xưa Kiều đẹp rõ là
Người ngưỡng mộ, bướm ong sa chực chờ
Kiều xinh cây cỏ đẫn đờ
Thúy Lan đẹp đến ngẩn ngơ đất trời..
Tỷ như sắc đẹp điểm mười
Thúy Lan chắc hẳn gấp đôi mức này
Tuy tác giả chưa “điểm nhãn” được cho vẻ đẹp của Thúy Lan, nhưng người đọc đã phần nào hình dung ra vẻ “nhất tiếu khuynh thành, tái tiếu khuynh quốc” của nàng. Đâu chỉ đẹp người, Thúy Lan còn có giọng nói ngọt ngào, thông minh, tính cách thơm thảo của người con gái “sắc hương”.

Lớn lên, Lan học đại học ngành Xây dựng vốn dành cho phái mạnh. Vì nhan sắc yêu kiều nên bao người theo đuổi. Lan bỏ mặc những săn đón, bảo bọc người bạn đồng môn là Oanh cùng vượt khó khăn để học giỏi. Mọi việc cứ thế êm đềm trôi đi cho đến khi Lan biết hung tin mình bị bệnh nan y, tuổi thanh tân phải sớm tàn hương, lụi nhụy. Trước việc sinh tử, Lan quyết cứu mạng sống mình bằng việc chấp nhận cuộc lương duyên bất như ý. Ra đời, Lan mở doanh nghiệp, cùng Oanh chống chọi với sự khắc nghiệt của thương trường. Ẩn trong sự thành công của Lan là biết bao sự đời chìm nổi. Khi thành, lúc bại. Sắc – Tài – Tình – Ân – Oán chồng chất lên nhau tạo nên một cuộc đời vừa điển hình, vừa khó phán xét về nhiều mặt.

Điều đáng quý nhất của tác phẩm chính là sự yêu thương, bảo bọc cuộc đời Thúy Lan của tác giả. Dù cho nàng có quyết định như thế nào, lúc được, lúc mất, lúc tốt, lúc chân thành, có khi ngây thơ, lắm lần toan tính, lẫn lộn ái tình – bản năng và quan niệm đạo đức xã hội chăng nữa thì tác giả vẫn yêu thương nàng, vẫn che chở cho nàng bằng những phép màu của câu chuyện cổ tích thời hiện đại. 

Tả xông hữu đột với trường đời

Plaute nói: “Phụ nữ đẹp thường chịu nhiều tai họa”

Nếu như Kiều thùy mị, nết na, sắc tài vượt trội đến nỗi “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” để rồi cuộc đời long đong, dâu bể thì Thúy Lan của chúng ta lại có tính cách quyết liệt.  Thúy Kiều vì cha mà trôi dạt lê lết dưới đáy xã hội thì Thúy Lan bắt đầu đời sóng gió từ việc cứu lấy chính mình, và nhan sắc là quyền lực tối thượng thúc đẩy Thúy Lan đạt được mọi mục đích, tại vị trên những đỉnh cao của xã hội.

Theo dõi suốt chiều dài truyện thơ, người đọc ít thấy sự can thiệp hoặc góp phần cho các quyết định của Lan từ gia tộc, cha mẹ, chồng con và những người đàn ông nào đó từng xuất hiện trong cuộc đời nàng. Họ chỉ thấp thoáng làm nền cho sự táo bạo và cương nghị của Thúy Lan. Như vậy có thể thấy, Lan là một cá thể độc lập và chủ động.
Trường đại học, tuổi thư sinh
Lan càng rực rõ, bình minh càng nồng
Chặn đường rượt lối bướm ong
Bước chân gấp gáp theo từng hướng đi
Mặc cho xe máy bám lỳ
Xe hơi cũng kệ, lắm khi bực mình…

Đức tính này thực quý giá và đáng học hỏi biết bao. Bởi lẽ, ở cái tuổi son trẻ ngây thơ, những cám dỗ ngọt ngào đã khiến bao nữ sinh dễ dàng thoái thác ý chí học tập mà lao theo sự hào nhoáng, để rồi trượt chân sa ngã chốn thị thành. Người con gái đẹp mà lòng gan dạ thép như vậy hẳn tiềm ẩn trong mình ý chí phi thường.

Cuộc đời bươn chải của Thúy Lan bắt đầu từ khi chấp nhận lấy một người chồng tài hèn sức mọn để báo ơn. Việc đại hệ trọng đời người mà Thúy Lan:
Giấu cha mẹ chẳng bàn dài
Riêng Kim Oanh phải chia vui với mình
Khỏi bệnh một lần tái sinh
Làm con dâu cụ, cũng đành đành thôi

Cuộc hôn nhân không tình yêu, không “môn đăng hộ đối” giữa mỹ nữ “chim sa cá lặn” cùng anh chàng “cớm nắng xanh xao”, nếu không nói đó là bi kịch “tâm sinh lý” thì cũng là một sự “chủ động” chấp nhận số phận. Nhà thơ đã miêu tả rất khéo léo cái bất hạnh của người vợ tương lai ngay trong đêm tân hôn
Tân hôn lần lữa, lữa lần
Hoa đà mở cánh nhộng trần nhụy ra
Hải run hồi hộp nằm xa
Thở như thở trộm suýt va tay nàng
Ngọc vàng tắm bể ánh trăng
Lan đẹp đến mức Hải không dám nhìn
Động phòng, những phút đầu tiên
Thế rồi cũng… đến, giữa tiên với đần

Bên một người chồng yếu đuối từ thể chất cho đến tinh thần như Hải, Thúy Lan buộc phải gánh vác để lo toan cho gia đình, tương lai. Thương trường là nơi không dành cho kẻ yếu tim. Lan tuy không yếu tim nhưng lại thiếu kinh nghiệm. Từ đây, ân oán Tình – Tiền bắt đầu xô tới. Sự thành công trong sự nghiệp của Thúy Lan, ngoài nhìn xa trông rộng và tài cán của nàng còn hàm chứa trong đó sức mạnh của sự toan tính và sắc đẹp mê hoặc.

Lan chủ động tìm đến Gâm Lang mong chờ sự trợ giúp khi việc kinh doanh thập tử nhất sinh. Một cuộc đổi chác đôi bên cùng có lợi đã diễn ra.
Anh yêu em lắm Thúy Lan
Nào anh đã ký cho em đâu nào
Ngực Gâm, Lan đẩy tay vào
Mận chao cành khép, thân đào rung đưa
Phi vụ hợp tác Tình – Tiền với Gâm Lang đem đến cho Thúy Lan những món lợi to lớn khiến chẳng bao lâu đã giúp nàng lật ngược thế cờ. Hoa Mai không những không lụn bại mà còn bước lên đài cao thành đạt nổi tiếng khắp nơi.
Nguồn giá rẻ bán lại cao
Lợi nhuận ào ào như nước mùa mưa
Nhận tiền chuyển khoản sáng trưa
Hoa Mai lột xác, lộ tòa Hoa Mai
Lan vui sung sướng, thở dài:
Hóa ra hai chữ sắc tài là đây
Ô, nhà thơ dường như đang đưa ra một định nghĩa mới về sắc tài cho phụ nữ hiện đại chăng?
Vốn dĩ cuộc đời thường thay đổi. Bởi Gâm Lang hữu dũng vô mưu, lộ tâm bội bạc đê hèn vì nhan sắc nên cũng gặp tai ương đến phải vào tù. Ngay khi nhận thấy mối nguy hiểm, Lan đã tính cho mình đường rút an toàn và có lợi nhất có thể. Ngoài việc đầu tư mua Thung lũng Nai để xây dựng khu sinh thái phục vụ du lịch, Lan tìm cơ hội tiếp cận Tổng giám đốc Tổng công ty Vật liệu Xây dựng bộ VX Trần Phi Hổ. Anh hùng Trần Phi Hổ làm sao có thể thoát khỏi sự quyến rũ đầy chủ đích của nhan sắc. Một bước lên mây, Phi Hổ đưa Lan về Tổng công ty và đặt nàng vào một vị trí cao trước cả khi đánh giá được thực lực của người đẹp.
Chớ nên dằn vặt Lan “yêu”
Lỡ làm vậy, bắt đền nhiều đó nghe
Gọn đi, mọi việc mọi bề
Tháng sau quyết định, Lan về trên đây
Giám đốc CT- 1 này
Trung tâm trọng điểm, cao cây lớn cành
Sau thành công rực rỡ Danh – Tình tại Công ty CT-1, nhân duyên sắp đặt cho Lan cơ hội gặp gỡ Bộ trưởng Trường. Người đọc lại thấy một Thúy Lan khéo léo tiếp cận cả đại gia đình Bộ trưởng. Những lần xuất hiện của Lan đều “rất có giá trị” khiến độc giả tự hỏi: “Là Lan quý mến chăm sóc gia đình Bộ trưởng thật lòng hay chỉ là những thế cờ đã được Lan đầu tư bài bản, đúng, đủ, không thừa không thiếu, hòng đạt được kế hoạch đi từ tình cảm gia đình thẳng tiến lên Bộ?”. Cố nhiên, ta không thể phủ nhận một phần những thành công của Thúy Lan trong thời gian điều hành tại công ty CT-1 cũng là nhân tố quan trọng trong việc chọn người tài của Bộ trưởng. Tuy nhiên, đây hẳn phải là con đường ngắn, tiết kiệm và “trời cho” nhất.
 Cháu Lan, ông biết muốn về
Việc công tại Bộ, ông hề đâu ngăn
…
Gợi thêm ý chỉ văn phòng
Nhắc Vụ tổ chức làm công văn liền
Xin kèm điều động Thúy Lan
Về làm Phó chánh Văn phòng cấp trên
Gót son thuận bước tiếp lên
Rồng thiêng lại được vẫy rền bể khơi
Từ nơi này, những tưởng sẽ là chốn dung thân yên ả cho Thúy Lan dưới sự bảo trợ của Bộ trưởng Trường thì hóa ra lại là hang hùm nọc rắn, suýt chút nữa thì tiêu hủy cuộc đời người đàn bà đa đoan và tài sắc Thúy Lan bằng bản án tử hình tội tham nhũng. Không biết trời xanh có mắt hay vì những người đại diện luật pháp thi hành bản án cảm thương cho người đàn bà đẹp đẽ, tài ba và có tấm lòng rộng rãi, nhân ái mà không một phát đạn nào trúng vào người Lan. Trong phút chốc từ nơi họng súng pháp trường Lan trở thành vô tội, phải chăng là câu chuyện cổ tích thời hiện đại?

Truyện thơ kết thúc có hậu theo phong cách “Người tốt được đền bù, kẻ ác đền tội”. Thoát khỏi bản án của pháp luật nhờ một việc hy hữu, Thúy Lan đường đường chính chính quay lại nhận nhiệm vụ Chánh Văn phòng Bộ thay cho Trí Thâm ngu dốt mà tham lam, hiểm ác; Kim Ngân xấu người xấu nết và lòng đầy tà tâm.

 Hai vợ chồng nhà thơ Lê Hữu Bình

Thúy Lan, chị là ai?

Gấp tập thơ lại, người đọc bật lên câu hỏi: “Rốt cuộc, Thúy Lan là người như thế nào?”. Bởi ẩn sâu trong cuộc đời Thúy Lan là những mâu thuẫn mà muốn giải nghĩa cần dò đến tận “ngọn nguồn lạch sông” như: tốt – xấu, chung thủy – thiếu chung thủy, sự nghiệp – gia đình, mưu toan – khôn khéo, chân thành – sắp đặt, phẩm hạnh truyền thống – khát vọng bản năng, tài năng – nhan sắc – sự may mắn,…

Để đánh giá một con người cần căn cứ vào sự hoàn thành vai trò của họ, hay còn gọi là sự thực hành chữ “Tâm” trên các bình diện: gia đình – sự nghiệp – đối nhân xử thế - con người cá nhân.

Xét chữ Tâm từ khía cạnh gia đình, xét chữ “lý” trên quan điểm đạo đức truyền thống, Thúy Lan là một người nội trợ không chu toàn, phó mặc mọi sự cho người giúp việc; một người mẹ không có thời gian chăm lo cho con bởi vì còn mãi bận bịu với công việc và các chuyến công tác dài ngày; một người vợ thiếu chung thủy khi mà hết lần này đến lần khác phản bội chồng mình dù chỉ là do hoàn cảnh xô đẩy và sự thỏa hiệp với các ham muốn bản thân, nghĩ mình xứng đáng được đền bù sau tất cả những thiệt thòi. Ngoài ra, Thúy Lan còn là một kẻ thứ ba vô cảm khi mặc nhiên tận hưởng lạc thú cuộc đời và các lợi ích vật chất, danh vọng do người tình mang đến mà không một lần nghĩ đến những người vợ bất hạnh, hoàn cảnh gia đình tan nát, thống khổ của họ. Vậy chữ “Tâm” ở đây có lẽ cần xem xét lại! 

Thế nhưng, “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”. Tận sâu thẳm, Thúy Lan là người đàn bà bất hạnh khi để cứu mạng mình mà phải chấp nhận sống với người chồng yếu đuối, an phận, mờ nhạt và không tình yêu. Hải không thể mang lại cho Lan điều gì kể từ niềm hạnh phúc riêng tư của người làm vợ đến sự nương tựa, nâng đỡ cho cuộc đời liễu yếu đào tơ. Một khi đàn bà phải đóng vai trò của người đàn ông, họ chấp nhận những xô bồ của cuộc đời để giữ cho mình mái ấm. Lan không yêu Hải, và một người đàn bà đẹp, giỏi tính toán như Lan thì quá nhiều cơ hội thay đổi cho một cuộc sống hạnh phúc và được bảo bọc từ người Thúy Lan yêu thương. Thế nhưng, Lan vẫn giữ cho mình trọn vẹn lời hứa trả “Ân”. Đây là điểm sáng để người đọc có thể thấu hiểu, đồng cảm cho những mâu thuẫn, dằn vặt nội tâm của Thúy Lan trên trường đời.

Về sự nghiệp, Thúy Lan là người phụ nữ giỏi giang, nhìn xa trông rộng. Cuộc đời Lan có hai lần thất bại. Lần thứ nhất chính là khởi nghiệp thiếu kinh nghiệm kinh doanh, lần thứ hai là do không lường hết được những uẩn khúc lòng người. Lần thứ nhất thoát nạn bởi Lan chấp nhận đánh đổi thể xác cho Tổng giám đốc Gâm Lang. Lần hai, có lẽ là do cái “Qủa” nhân đức mà Lan tích trữ lâu nay đến ngày hái nên thoát khỏi họng súng pháp trường trong đường tơ kẻ tóc. Còn lại, toàn bộ con đường sự nghiệp của Lan đều thành công như mọi sự dự trù.

Đọc truyện thơ Thúy Lan, người ta càng tin vào sức mạnh của nhan sắc. Nếu không phải Lan đẹp “nghiêng nước, nghiêng thành” thì liệu Tổng giám đốc Gâm Lang sành điệu ăn chơi có ngay lập tức sẵn sàng ra tay giúp đỡ? Nếu không phải là Lan diễm kiều lộng lẫy thì có lấy lòng Tổng giám đốc Trần Phi Hổ mà leo lên ghế giám đốc công ty CT-1 dễ dàng như lấy viên kẹo từ trong túi áo. Hay vì Lan đài các, sang trọng mới dễ vào ra nhà Bộ trưởng Trường, tránh được lời dèm pha “Thấy người sang bắt quàng làm họ”.

Càng có nhan sắc, người phụ nữ càng có nhiều cơ hội thành công. Song tính lâu bền của thành công còn căn cứ vào sự thông minh của họ. Chưa từng ai cho Thúy Lan cơ hội tỏa sáng mà về sau lại không hài lòng, hãnh diện. Thúy Lan thực đã được trời ban cho cả sắc lẫn trí. Việc Lan không thành công mới là điều đáng ngạc nhiên chứ không phải là Thúy Lan đã thành công như thế nào!

Trên thương trường, Lan là con cá kình biết mình biết ta dũng cảm vượt lên muôn ngàn sóng dữ, luôn tính toán cẩn thận đường đi nước bước, luôn nhìn xa trông rộng và chủ động trong mọi biến cố. Phẩm chất của Lan là phẩm chất mà mọi nữ doanh nhân Việt Nam trong thế kỷ 21 này cần phải học tập. Rốt lại, để đạt được mục tiêu công việc, dù là phải dùng cách nào, phương tiện gì để đi đến đích thì đều có thể được cân nhắc áp dụng. Huống chi, Thúy Lan một mình gồng gánh trên vai gia đình và tương lai sự nghiệp.

Ta lại quan sát tiếp nàng Thúy Lan trên bình diện đối nhân xử thế. 

Không biết tác giả cố ý lồng ghép vào tác phẩm thuyết Nhân Qủa của nhà Phật hay chỉ là sự chiêm nghiệm lẽ thật cuộc đời. Ta có thể nhìn thấy các hình ảnh đơn lẻ như Thúy Lan đẹp, Thúy Lan thông minh, Thúy Lan có nội tâm phức tạp và đời sống cá nhân éo le, Thúy Lan mạnh mẽ trên vai trò người phụ nữ xã hội, Thúy Lan người bạn chân thành, Thúy Lan biết giữ lời hứa, Thúy Lan lượng cả bao dung và tha thứ cho những kẻ làm hại mình… Có một sợi dây vừa ẩn, vừa hiện toàn chiều dài tác phẩm, chính là sự gieo trồng hạt giống thiện lương của Thúy Lan đã cắt nghĩa nhanh chóng cho những sự may mắn mà Thúy Lan được hưởng và kết cục hoàn hảo của câu chuyện cổ tích hiện đại này.

Thưở bé, Thúy Lan xúc gạo cho ăn mày mà không sợ cha mẹ la rầy. Lớn lên, khi có cơ hội đều đùm bọc, cưu mang chia ngọt sẻ bùi với bạn và nhờ vậy mà luôn bên cạnh Lan là nàng Oanh tri kỷ sẵn sàng vì chị chịu đựng gian khó không từ nan. Ta ngạc nhiên trước sự rộng rãi của doanh nhân Thúy Lan thường xuyên chia sẻ phần lớn trong lợi nhuận kinh doanh của mình để làm việc thiện một cách thiết thực như: nuôi người già khó, trẻ mồ côi và những nạn nhân chất độc da cam.

Người đọc nhận ra, có lẽ Thúy Lan còn là một người có tấm lòng bao dung lớn. Bởi rằng, biết bao lần gặp hiểm nghèo như: bị người khác tung tin chuyện ngoại tình đến Hải, bị tạt a xít hủy hoại nhan sắc, bị côn đồ rạch mặt, bị vợ Gâm Lang hạ nhục tàn tệ, hay khi phát hiện ra chồng dan díu với người giúp việc, bị Cường lái xe tỏ tình thô bạo, bị Trí Thâm và Kim Ngân ném đá giấu tay đến nỗi phải nhận án tử,… ta vẫn thấy Thúy Lan không bao giờ truy cứu sự việc như người đời vốn thường như vậy. Dường như Thúy Lan biết rằng, con đường mình đi được đến thành công đã phải “vay” của người khác quá nhiều, nên nếu gặp chuyện gian nan mà may mắn tránh khỏi thì xem như đó là phận phước, còn cần chi phải dùng oán báo oán cho oán thêm chồng chất.

Thế nên, ta sẽ có ít phần ngạc nhiên khi người đàn bà sành sỏi trường đời, thông minh lạ lùng như Thúy Lan mà không hề nhận ra sự đố kỵ, ganh ghét của Hiền thư ký Gâm Lang; không nhận ra khoảng trống gia đình và sự dan díu của chồng với người giúp việc; không nhận ra tình cảm của Cường lái xe dành cho mình, và thiếu cẩn trọng đến nỗi cả tin vào bộ mặt xảo trá giả nhân nghĩa của Trí Thâm và Kim Ngân. Mà biết đâu, đó cũng là cái may của Thúy Lan, để thấy rằng “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Kẻo Thúy Lan mà “Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý” quá lại khiến cho nhân vật trở nên siêu thực, và độc giả sẽ không còn yêu mến nàng nữa chăng?!

Và vì Thúy Lan “chín phần hoàn hảo” nên những người đàn ông trong cuộc đời Thúy Lan như cha, chồng Hải, em trai Đạo, Gâm Lang, Phi Hổ, Cường lái xe… trở nên mờ nhạt. Tất cả họ đều nằm trong phán quyết của nàng. Tất cả đều cam tâm chấp nhận sự sắp xếp của nàng và hồi hộp lo sợ một ngày sẽ mất nàng. Thực là một đức tính vừa đáng yêu lại vừa đáng sợ của người phụ nữ!

Còn con người cá nhân Thúy Lan thì sao?

Khuôn mặt đời thường đối với gia đình, xã hội, đối nhân xử thế…, Lan đều đã xây dựng cho mình khá tròn trịa. Người phụ nữ tuyệt vời phải là người phải biết trân trọng chính mình. Ta yêu Thúy Lan bởi nàng là người biết quý trọng bản thân. Chắc chắn là như vậy!

Lan yêu cuộc sống chính mình nên dù phải sống với người chồng nhợt nhạt như Hải, Lan vẫn sẽ chọn. Vì còn sống là còn thực hiện được mơ ước cống hiến cho đời. Rồi thì, dù có “một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng” vậy. 

Lan yêu bản thân nên đứng trước việc phải dùng nhan sắc để chấn hưng sự nghiệp, Lan đau xót vật vã, dày vò tâm can:
Đã vào lối động tiên này
Là trao cho hết những gì của riêng
Đã bạn cùng với giàu sang
Mở thông tầm trí, trao hàng ngang phân
Hữu hình vật chất là cần
Vô hình vô giá chẳng cân nào tày
Trời ơi đất hỡi con đây
Toan thân chấp nhận là dây miệng đời
Chối từ, tránh né lời mời
Ai còn cứu cánh mạng thời đang rơi
Thúy Lan yêu bản thân, nên trân trọng những ai đã giúp đỡ mình. Thúy Lan thương mến và chăm lo cho nàng Oanh bằng cái tình “môi hở răng lạnh” để báo đáp Oanh luôn kề vai sát cánh bên mình kể cả khi khó khăn lẫn khi thành đạt.
Gần xa rồi chuyện mung lung
Trời cho duyên phận ghép cùng hai ta
Chỉ xe mối kép vít tà
Áo lành ấm ngực, hở ra lạnh đùi
Một khi, em sướng chị vui
Em đau chị xót em tươi chị mừng
Thúy Lan luôn tâm niệm sẽ trả ơn cho Gâm Lang đã vì si mê mình mà lầm lạc.
Giúp em nhiều, anh Gâm Lang
Mai rày em trả, đoàng hoàng như vay
Đèn kia hãy chứng dám đây
Không làm được, Lan tự tay xử mình…
 Và cảm kích tình nghĩa của Phi Hổ mà Thúy Lan luôn có ý thức hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc.
Bước chân Lan đặt tới đâu
Hàng hàng tới đó, cầu cầu đường thông
Phi Lang sung sướng vô cùng
Bác Nam cũng vậy, chủ trương đúng hề
Thúy Lan cũng yêu thương chính mình thiệt thòi trong chuyện gối chăn chồng vợ nên đã nhiều dày vò tâm tư:
Duy thay, duy chỉ một điều
Hải – anh một xách, chị sao khổ vầy
Mong trời thương giúp nới tay
Bù cho chị chút, mới hay công bằng
Ý Oanh muốn sức… hổ rồng?
Phải chi được vậy em mong từng ngày
Ngang Lý Đức, Thạch Sanh đây
Tưới cho đời chị, đẫy ngày bớt đêm
Lỡ như chị đã…. Thì em
Coi là đánh mất thủy chung không nào?
Dẽ cho ai thấu phận đào
Dẽ cho đã hiểu nỗi đau của người
Sẽ không trách móc không cười
Nhất tề đồng thuận chuyện đời đúng thay
Miễn sao nhà cửa sum vầy
Vẫn thương anh ấy, như cây phủ rừng
Xã hội Á đông thường không chấp nhận các mối quan hệ ngoài gia đình vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội để tìm lối thoát cho hôn nhân không hạnh phúc. Tuy nhiên, ở một biên độ thật hẹp, thật nhỏ, thật kín đáo, thật khuất lấp thôi, khi đứng từ khía cạnh con người cá nhân, có lẽ người đọc cũng sẽ như nàng Oanh, gật đầu, tặc lưỡi, cảm thông cho sự cả gan “xé rào” luân thường đạo lý của Thúy Lan chăng?!

Nhà thơ Lê Hữu Bình phải có tư tưởng tiến bộ ghê lắm mới thỏa hiệp với các chuyện “tày đình” này của Thúy Lan. Mà xét cho cùng, sự che chở này ắt là của người cha dành cho con gái, chứ từ tư cách người chồng, có khi tác giả sẽ cân phân hơn chăng?! Bởi dù xã hội có hiện đại đến như thế nào, người phụ nữ vẫn sẽ không thoát khỏi định luật “lấy chồng thì phải theo chồng”, như ca dao xưa đã nhắn nhủ:
Con vua lấy thằng bán than   
Nó dắt lên ngàn cũng phải đi theo

Thói đời đen bạc và lời cảnh tỉnh về luật nhân quả 

Khổng Tử dạy rằng: “Ngũ thập nhi, tri thiên mệnh”, tức ngoài 50 tuổi thì hiểu được mệnh trời. Cuộc sống thăng trầm đã nhiều nên nhà thơ Lê Hữu Bình không hề ngần ngại phô bày luật nhân quả trong tác phẩm.

Thông qua những kết thúc hoặc “có hậu”, hoặc “vô hậu” đối với từng nhân vật, tác giả chính thức gióng những hồi chuông mãnh liệt nhằm cảnh báo tình trạng đi xuống của đạo đức xã hội, những mặt trái con người và quả báo mà ai cũng phải nhận sau tất cả.

Ta ghê sợ một nhân vật người chồng Gâm Lang “giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Trong công việc, tiểu nhân đê hèn dùng thế lực của mình mà ép buộc một Thúy Lan cận kề bên vực thẳm phải hiến thân cho hắn ta rồi mới được hắn ra ơn cứu giúp. Có thể gọi là gì nếu không phải một “thất phu lỗ mãng”, bẩn thỉu, bệnh hoạn và đáng khinh bỉ. Để rồi sau khi chiếm đoạt được sắc đẹp thì mù quáng lao theo bất kể đúng sai, bất kể làm hại cho tổ chức, tập thể. Và vì muốn mãi mãi sở hữu nhan sắc nên quay lại ruồng bỏ vợ con, dùng những âm mưu hạ tiện nhất để giết vợ hòng sớm đạt được mục đích cưới Thúy Lan. Rốt cuộc là gì, là một Gâm Lang thân bại danh liệt phải vào tù ra tội. Thúy Lan làm sao có thể theo Gâm Lang mãi được. Cuối cùng, chỉ có người vợ “sung lùn mèo ghẻ kiếp thê hãm bần” là còn lại thăm nom, tận tụy với Gâm Lang mà thôi. Gâm Lang đã quên mất một điều “Của chồng, công vợ”, quên mất câu “phu xướng, phụ tùy”. Và người vợ của Gâm Lang, tuy đã già xấu nhưng vẫn một lòng hướng về Gâm Lang như tấc lòng người vợ Việt Nam nhẫn nhịn,  thủy chung:
Chàng ơi phụ thiếp mà chi
Thiếp là cơm nguội đỡ khi đói lòng
Vậy còn vợ Gâm Lang, bà là một người như thế nào mà đã biến thái trong mắt chồng ghê sợ đến như thế này:
Giờ nay thấy vợ càng xề
Sung lùn mèo ghẻ, kiếp thê hãm bần
Đũa mốc, còn đặng mâm son
Nặng mùi, dại chợ gà cùn cối xay
Đống thừa, hương vãi, hoa khoai
Đoạn tình chán nhạt, ngày ngày kề bên
….
Vợ chi khi gặp người ta
Đong đầy xấu hổ vì ma lẫn người

Là chị em phụ nữ, ai đọc đoạn thơ này mà không đau buốt tận tâm cam. Lẽ thường, đàn ông ưa thích cái đẹp và sự mới lạ. Thế nên, tứ đức “công, dung, ngôn, hạnh” của người phụ nữ, thời nào đi nữa cũng vẫn luôn giữ nguyên giá trị. Người ta có thể linh hoạt, tùy biến nó để vừa “giỏi việc nước, đảm việc nhà” kia mà! Bởi lẽ, hiếm có cặp vợ chồng mãi mãi “tương kính như tân” sau hàng chục năm chung sống. Chỉ có những người phụ nữ đoan chính, điềm đạm, dịu hiền, nhẫn nại thì mới giữ được hạnh phúc và sự tôn trọng của người chồng mà thôi. Còn sắc đẹp ư? Đó là thứ trang sức rực rõ nhất và cũng mong manh nhất trong gia sản của người phụ nữ!
Hay như bi kịch người chồng thay lòng đổi dạ của gia đình Phi Hổ - Thanh Hằng, ta thực sự khó bề lý giải. Nếu như trên, vợ Gâm Lang quá xấu xí, thô kệch thì Thanh Hằng, vợ Phi Hổ xét bề nhan sắc có phần không thua kém Thúy Lan. Chỉ có thể giải thích rằng cuộc gặp gỡ của Thúy Lan – Phi Hổ là của “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, và Thanh Hằng dù cố gắng đến mấy thì vẫn bị cảm giác “nhàm chán” làm tăng phần ‘tàn phai” trong mắt chồng khi:
Đàn bà đẹp đến tơi bời
Khiến tim tan vỡ, nát tơi cõi lòng
Lan như hồng thắm kiệt cùng
Hằng mau sậm sệ, rọc mùng ổ khoai

Tuy rằng Phi Hổ kín đáo hơn, không công khai ruồng bỏ vợ con, biết các giới hạn của mình để giữ lại gia đình nhưng chị em phụ nữ cũng nên mau mau ghi nhớ mà yêu thương bản thân hơn, khoan đổ hết lỗi cho đàn ông đen bạc một khi chính mình cũng quên chăm sóc vẻ ngoài lẫn tâm hồn được mãi luôn tươi mới, như quyển sách đọc không bao giờ hết, để chồng luôn yêu thương mình thiết tha. Nhỡ khi chàng có bị “những phút xao lòng” thì vẫn còn biết giữ lại cho nhau một con đường thương yêu mà trở về.

Độc giả hoàn toàn thông cảm cho việc vợ Gâm Lang, Phi Hổ vì bảo vệ hạnh phúc của mình mà lồng lộn, cay nghiệt. Tuy nhiên, những hành vi văn hóa đương nhiên sẽ hiệu quả hơn các phương thức đánh ghen man rợ như tạt a xít, rạch mặt bằng dao lam…, nhà thơ Lê Hữu Bình ý nhị nhắc nhở vậy đó!

Trên bức tranh toàn cảnh của một xã hội đầy trắc trở, chúng ta khó tránh khỏi việc giáp mặt với những người như Hiền thư ký, vì không được đáp lại tình yêu mà làm nhiều việc tàn ác để thỏa mãn cái sân hận của mình; Hai trưởng phòng tại Công ty Gâm Lang, do suy nghĩ hạn hẹp mà thành hại mình hại người; Giám đốc Mai Mốt kém tài, nhu nhược, hám lợi; Người giúp việc Xoan mưu toan thay chủ chiếm nhà; Trí Thâm – Kim Ngân thọc gậy bánh xe, ngậm máu phun người; Hay cấp thấp hơn chính là những kẻ xã hội đen sẵn sàng chém giết chỉ vì có người trả tiền thuê mướn….

Chao ôi, như vậy thì bức tranh cuộc đời xám xịt quá. Nhẽ nào, xã hội chỉ toàn những kẻ tráo trở, đảo điên, đổi trắng thay đen như trở bàn tay hay sao? Nếu vậy, ta còn biết trông mong vào đâu và tin vào ai để sống?!

Nói vậy thôi, ta sao có thể quên một nàng Oanh tín nghĩa, trung thành vì chị mà xả thân không hề tiếc. Sao ta có thể quên Cường lái xe bồng bột nhưng trượng nghĩa. Ta chắc chắn phải nhớ bộ trưởng Trường lấy từ tâm mà đối xử với kẻ dưới, hay như anh Đồng công an liêm khiết, chí công vô tư…. 

Trong truyện thơ Thúy Lan, các nhân vật thực với nguyên mẫu trong đời thường là 100%, chỉ riêng có nàng Lan là được tác giả ưu ái mà giảm xuống còn khoảng tám, chín mươi phần trăm gì đó, để có chỗ mà lách, có cớ mà xử lý những đỉnh cao trái ngang không thể giải quyết trong cuộc đời thực. Để nhắn nhủ với thế nhân rằng, người tốt sẽ luôn luôn được bù đắp, hãy “sống thiện” ngay tại phút giây này, ngay khi ta còn có thể. Còn người làm việc xấu, phi nghĩa thì tất yếu sẽ trả giá cho việc làm của mình sớm lắm!

Cảm thức tính dục trong truyện thơ Thúy Lan

Một trong những điểm nổi bật của truyện thơ Thúy Lan chính là cảm thức tính dục dàn trải trong toàn câu chuyện. Có thể nói, nhà thơ là một người biết thưởng thức cái đẹp và trân trọng các giá trị nhân sinh, nên cách mà tác giả đề cập đến chuyện ái ân nam nữ rất gợi cảm.
Dưới ngòi bút của nhà thơ, vẻ đẹp của Thúy Lan hiện lên đầy cám dỗ:
Nữ hoàng của các loài công
Lưng ong thắt đáy, nét cong tuyệt vời
…
Nõn nà, hồng phớt chân ty
Sẫm vùng lưu thủy, trẳng lỳ tận tay
…
Thẳng tưng theo bước Lan đi
Gợn cung nền váy, gân quây mông tròn
Đều ra hai phía, pa ra bôn
Lùm lùm gợi cảm, vi phân phương trình
Lan như thế đó, làm sao mà chàng Hải xanh xao không chết run trong đêm tân hôn khiến cho người đọc phải bật cười tội nghiệp:
 Hải run hồi hộp nằm xa
Thở như thở trộm suýt va tay nàng
Nhà thơ phân tích cảm xúc hồi hộp của Gâm Lang trước buổi hẹn hò với Thúy Lan đầy những dạn dày kinh nghiệm ăn chơi trác táng và cũng đồng thời là một hiện thực xã hội “thót tim”:
Đã từng em yến, nàng oanh
Đã từng bao cuộc lầu xanh trá hình
Chắt ra một lũ yêu tinh
Mua vui, bo đẹp vờ tình ngây ngô
Ca ve đĩ điếm chạy xô
Xổ ra một bồ, em vẫn còn zin
Lạ chi động tác mẹ mìn
Xoạc ngang dậu rách, tốc hiên mái hồi
Nhà thơ cũng khéo ghê khi mô tả cảnh đẩy đưa, ỡm ờ của cuộc đổi chác Tình – Tiền giữa Thúy Lan và Tổng Gâm
Dùng dằng nửa giữ nửa phân
Thúy Lan nhất mực dẫy dần tách ra
Nụ hôn khoảng cách dần xa
Dương thu máu lại, âm nhòa mép xuân
Và cái cách mà Gâm Lang ân ái càng tỏ rõ cái chất thô bỉ của hắn ta:
Bình sinh dồn sức tới nơi
Vần hơn đòi nợ, cho tơi tận cùng
…
Dai ngang chảo bện kéo thuyền
Mạnh ngang hổ đói trâu điên đầu đàn
Ben La vùng mỏ chở than
Mũi khoan địa chất có phần xê ra
Đàn ông khiếp quá, thật là
Làm cho tột đỉnh, làm ta giật mình
Thú vị nhất có lẽ là đoạn nhà thơ mô tả lúc Thúy Lan và Phi Hổ phải lòng nhau
Tối nay khách sạn Thiên Đàn
Hai phòng hai đứa đều chan chứa lòng
Thúy Lan chộn rộn, vẫn không
Mặc cho Phi Hổ sổ lồng muốn sang
Đèn tường lem lét ngó ngang
Váy lon dính mỏng, ẩn hàng…nguyên sơ
Bởi vì “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” thôi, cho nên chuyện gì đến thời ắt phải đến:
Run run hồi hộp tỏa lan
Lan che lấy ngực, Hổ lần đai lưng
Cũng sau vài phút lùng nhùng
Bướm đành thả cánh, lộ bung khung thành
Vẫn còn khép góc giấu quân
Cành xuân, gấu trúc bẻ tan gọng kìm
Cảm thức tính dục thấm đẫm trong tác phẩm truyện thơ Thúy Lan nhưng tác giả đề cập đến đề tài tế nhị này bằng một xúc cảm thẩm mỹ khiến người đọc lay động, để rồi thông cảm cho những điều chưa phải trên khía cạnh đạo đức của các nhân vật. 

Tác giả khá kỳ công tìm kiếm các từ ngữ tượng hình, tượng thanh và biểu cảm thẳng thắn, không quanh co, ngại ngùng đã khiến độc giả dù bảo thủ văn hóa đến mấy cũng có thể cảm nhận được tâm hồn của nhân vật. Có thể nói, trên khía cạnh này, nhà thơ đã thể hiện rất thành công.

Khép lại

Công tâm mà nhận xét, truyện thơ Thúy Lan là một tập thơ cuốn hút. Sự hấp dẫn của tập thơ đến từ việc tác giả đã bê được nguyên các mảng màu cuộc sống, con người xã hội vào đây. Trong thực có ước lệ, trong ước lệ rõ rành là hiện thực. Chưa kể cốt truyện khá hấp dẫn, nhân vật sống động, tình huống thực tế che được khá kỹ bàn tay sắp đặt của tác giả. Ta trân trọng một tâm hồn người lính nhân hậu chứa chan trong tác phẩm. Là ký ức đẹp thời quân ngũ ăn gió nằm sương vì Tổ quốc thể hiện trong các đoạn miêu tả cảnh rừng núi và tâm trạng Thúy Lan ngày đầu khai phá Thung lũng Nai; Là tấm lòng người lính với đồng đội của mình khi mong ước có được nhiều hơn sự chăm sóc đối với những thế hệ nhiễm chất độc da cam – nạn nhân của cuộc chiến tranh chống Mỹ; và nhà thơ còn dạt dào mong ước mọi doanh nhân Việt Nam – những người lính tuyến đầu của chiến trường kinh tế giỏi giang, năng động, đóng góp cho việc xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp …

Người đọc có thể đo đếm được công phu tác giả dồn cho đứa con tinh thần của mình khá lớn. Hơn 4000 câu thơ tâm huyết của tác  giả đã tái hiện thành công một xã hội đầy những góc khuất bằng tấm lòng thấu cảm nhân tình thế thái.

Bên cạnh những ưu điểm về cốt truyện và nội dung, do quá chú trọng việc biểu đạt hình ảnh nên ngôn ngữ thơ nhiều chỗ thiển nghĩ tác giả nên trau chuốt thêm. 

“Ðể trong lòng là chí, ngụ ra ý là thơ. Người có sâu, cạn cho nên thơ có mờ có tỏ, rộng hẹp khác nhau. Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị.” (Nguyễn Cư Trinh)

Đọc xong truyện thơ Thúy Lan, chúng ta đều nhất trí:
Có câu “muôn sự tại trời”
E rằng mới nửa, đúng thôi không nào?
Nhân tâm cốt cách chí cao
Lượng đó định vào lẽ sống ai ơi
Căn cùng cung bậc chín mười
Suy đi ngẫm lại, nên người từ: Tâm
Đây đó trong hình ảnh Thúy Lan, là cuộc sống bản lĩnh của nhiều phụ nữ Việt Nam đang vươn lên khẳng định vai trò và giá trị xã hội của mình trong cuộc sống. Cuộc đời, đương nhiên tồn tại nhiều nỗi uẩn khúc, song, khi trái tim ta bao dung, rộng lớn, mọi chát đắng đều có thể lý giải, thông cảm, chia sẻ và dung hòa. Và Thúy Lan, nàng là hiện thân cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện đại, người tự làm chủ cuộc đời và ý chí, sẵn sàng cởi mình khỏi những định kiến, những ẩn ức bản năng đã nặng nề ngàn năm ràng buộc.

Hạ Vũ

     

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Facebook Themes